Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

9 thực phẩm giúp giảm huyết áp

9-thuc-pham-giam-huyet-ap-1-4914-1390529
Quả kiwi
Quả kiwi chứa nhiều chất Lutein, một loại chất chống oxy hóa rất tốt. Vì vậy, những người huyết áp cao ăn 3 quả kiwi mỗi ngày sẽ có hiệu quả rất rõ rệt.
Dưa hấu
Theo một nghiên cứu mới của các nhà thực phẩm học từ ĐH Bang Florida (Mỹ), dưa hấu là vũ khí tự nhiên hữu hiệu chống lại hiện tượng tiền cao huyết áp, tiền thân bệnh tim mạch. Chúng là nguồn thực phẩm tự nhiên giàu L-citruline - một amino axit thiết yếu cần cho sự hình thành oxide nitric giúp điều hòa nhịp tim và huyết áp khỏe mạnh. Ngoài lợi ích tim mạch của citrulline, dưa hấu cũng cung cấp nhiều vitamin A, B6, C, chất xơ, kali và lycopene (chất chống oxy hóa mạnh).
Táo gai
Táo gai là loại quả thường mọc trên núi, chứa nhiều vitamin, chất flavonoid – những chất chống oxy hóa tự nhiên hiệu quả, tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể, giúp tim khỏe mạnh, lợi tiểu và giảm huyết áp cực tốt.
Hoa râm bụt
Theo một nghiên cứu của ĐH Tufts, uống trà hoa râm bụt mỗi ngày giúp hạ huyết áp và tăng cường sức khỏe tim mạch cho những người có nguy cơ bị huyết áp cao. Trà hoa râm bụt có tác động làm giãn thành mạch máu, ngăn chặn enzyme chuyển hóa làm tăng huyết áp.
Chocolate đen
Chocolate đen chứa ít nhất 70% bột ca cao. Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y học Mỹ (JAMA), tiêu thụ khoảng 30 calo mỗi ngày (khoảng một thanh nhỏ hình vuông) chocolate đen sẽ giúp giảm huyết áp sau 18 tuần mà không tăng cân hoặc không gây tác dụng phụ khác.
Chuối
Chuối chứa nhiều kali và là loại thực phẩm giúp hạ huyết áp rất tốt. Hãy ăn một quả chuối vào buổi sáng hoặc buổi chiều cùng với hạnh nhân. Ngoài ra bạn có thể xắt chuối thành những miếng nhỏ, cho vào túi rồi để vào tủ lạnh để thưởng thức.
Tỏi
Tỏi chứa một hợp chất từ lưu huỳnh là allicin, có tác dụng tích cực trong bảo vệ, ngăn ngừa và chống lại các bệnh của hệ thống tim mạch như xơ vữa động mạch và cao huyết áp. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cho thấy ăn tỏi thường xuyên còn giúp cơ thể chống lại các bệnh ung thư như ung thư vú, ung thư kết tràng, ung thư thực quản…
Khoai lang tím
Ngoài tác dụng giảm cân, khoai lang tím còn có công dụng rất tốt trong điều trị huyết áp cao. Khi ăn khoai lang nên để cả vỏ nướng, luộc mà không nên chiên, rán để tránh làm giảm các thành phần oxy hóa trong khoai. Đặc biệt, không nên ăn khoai với bơ thực vật, nó sẽ làm mất tác dụng "bình ổn" huyết áp.
Nho khô
Lượng kali cao trong nho khô là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp giảm huyết áp. Nho khô được các bác sĩ khuyến nghị nên là một phần của chế độ ăn kiêng với tỷ lệ sợi cao, hàm lượng chất béo thấp, giúp giảm huyết áp.
Lan Lan (theo naturalnews)

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Chế độ ăn kiểm soát huyết áp ở người tiểu đường

Theo thạc sĩ, bác sĩ Trần Quốc Cường, Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, tỷ lệ tăng huyết áp ở người bệnh đái tháo đường cao gấp 1,5-2 lần so với người bình thường. Người đái tháo đường cần thực hiện chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý để kiểm soát huyết áp thấp hơn người bình thường. Mục tiêu điều trị tăng huyết áp với người đái tháo đường chưa có biến chứng là dưới 130/80 và có biến chứng protein niệu trên một gram một ngày là dưới 125/75 mmHG.
Ảnh: mensfitness
Ảnh: mensfitness
Để kiểm soát tốt huyết áp, người bệnh tiểu đường cần thực hiện chế độ ăn uống hợp lý để duy trì cân nặng lý tưởng, tránh béo phì, tăng cường tập thể dục thể thao, tránh stress. Một trong những biện pháp quan trọng để ổn định huyết áp là giảm lượng muối trong chế độ ăn uống hàng ngày. Cần giảm muối dưới 5 gram một ngày ở bệnh nhân chưa tăng huyết áp. Nếu có tăng huyết áp nên hạn chế dưới 3 gram một ngày.
Một số cách đơn giản để giảm muối
- Nêm ít gia vị giàu muối như nước mắm, nước tương, tương ớt, chao, mắm các loại... lúc nấu ăn.
- Hạn chế sử dụng thực phẩm chế biến sẵn xúc xích, giăm bông, thịt xông khói, chả lụa, bánh mì, bánh ngọt...
- Sử dụng gia vị khác như cà ri, hành, tỏi, gừng, riềng, rau mùi, ngũ vị hương.
- Pha loãng nước chấm trên bàn ăn như nước tương, nước mắm thay vì dùng nguyên chất.
- Rửa qua thực phẩm nhiều muối như dưa muối, cải muối, cà muối, cá khô.
Lượng muối Na trong một số thực phẩm
Thực phẩm Lượng Natri (mg) trong 100 gram thực phẩm
Lạp xưởng 1600
Mì gói 1433
Xúc xích 1600
Bánh lạt 780
Bánh mì 630
Bánh Rtiz 580
Sữa bột tách béo 530
Sữa bò tươi không đường 380
Sữa bột toàn phần 430
Mì sợi tươi 410
Bánh bông lan không kem 300
Lê Phương

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Biến chứng võng mạc do tăng huyết áp

Ngoài những biến chứng ở tim mạch như nhồi máu cơ tim, suy tim, gây tổn thương ở não, thận, mạch máu, tăng huyết áp còn dẫn đến nhiều biến chứng ở mắt.
Bác sĩ CKII Phạm Văn Hoàng, Bệnh viện Mắt TP HCM cho biết, huyết áp tăng cao kéo dài hoặc tăng đột ngột sẽ làm tổn thương hệ thống mạch máu ở võng mạc. Thành mạch máu bị tổn thương khiến các thành phần của máu thoát ra khỏi mạch máu. Xuất huyết, dịch thoát ra trên võng mạc gây phù võng mạc, lipid thoát ra trên võng mạc tạo thành xuất tiết. Đồng thời, mạch máu co lại gây thiếu máu ở võng mạc, thần kinh thị giác. Tất cả những tổn thương này dẫn đến mờ mắt. Những dấu hiệu trên đây chỉ được phát hiện bằng cách soi đáy mắt.
Nếu huyết áp không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến nhiều tổn thương ở mắt. Ảnh: Lê Phương.
Nếu huyết áp không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến nhiều tổn thương ở mắt. Ảnh: Lê Phương.
Theo bác sĩ Hoàng, tăng huyết áp vừa phải thường không có triệu chứng rõ rệt ở mắt, chỉ trong trường hợp tăng huyết áp ác tính (trên 200/140mmHg) mới có dấu hiệu như nhức đầu, mờ mắt, sợ ánh sáng. Người trẻ tuổi thường không biết mình bị tăng huyết áp nên khi có những triệu chứng này, họ không nghĩ là do biến chứng của tăng huyết áp. Thông thường người bệnh chỉ cảm thấy triệu chứng không rõ ràng như đau ngực, thở ngắn, khó thở khi vận động, khó thở vào ban đêm và khó thở lúc hồi hộp.
Tăng huyết áp và tổn thương ở mắt thường chia thành 4 giai đoạn.
Giai đoạn I: Bệnh nhân bị tăng huyết áp kéo dài, chưa có triệu chứng gì, tim và thận chưa bị ảnh hưởng. Khám đáy mắt chỉ thấy có động mạch co nhỏ.
Giai đoạn II: Huyết áp cao hơn, chức năng tim thận vẫn còn tốt. Ngoài dấu hiệu động mạch võng mạc co nhỏ, còn có thêm dấu hiệu bắt chéo động tĩnh mạch mà chỉ có bác sĩ soi đáy mắt mới nhận biết được.
Giai đoạn III: Huyết áp khá cao và kéo dài, tim và thận đã bị suy giảm khá nặng, bệnh nhân bị khó thở khi gắng sức. Ở giai đoạn này, đã có tổn thương ở não, tim, võng mạc và suy thận. Soi đáy mắt sẽ có thêm xuất huyết, xuất tiết ở võng mạc.
Giai đoạn IV: Được xem là tăng huyết áp ác tính, huyết áp rất cao đi kèm với tổn thương nặng ở não, tim, thận và võng mạc. Khi soi đáy mắt, ngoài các dấu hiệu của giai đoạn III, sẽ có thêm phù gai thị.
"Các tổn thương ở võng mạc càng ở giai đoạn nặng thì nguy cơ bị tai biến mạch máu não, bệnh mạch vành, tử vong càng cao. Nếu tăng huyết áp được kiểm soát tốt thì tổn thương ở võng mạc sẽ hồi phục. Một số bệnh nhân bị tổn thương võng mạc giai đoạn IV sẽ tổn thương vĩnh viễn ở thần kinh thị giác và hoàng điểm", bác sĩ Hoàng nhấn mạnh.
Tăng huyết áp sẽ làm cho người bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh khác ở võng mạc như tắc động mạch trung tâm hoặc động mạch nhánh võng mạc, tắc tĩnh mạch trung tâm hoặc tĩnh mạch nhánh võng mạc, phình động mạch võng mạc. Những biến chứng này có thể sẽ dẫn đến các biến chứng trầm trọng khác ở võng mạc như xuất hiện tân mạch ở võng mạc, xuất huyết pha lê thể và màng trên võng mạc. Ở người đã bị bệnh võng mạc do tiểu đường, tăng huyết áp sẽ làm bệnh tiến triển nặng hơn. Phù gai thị kéo dài sẽ làm teo thần kinh thị giác, do đó mắt mờ rất nhiều.
Bác sĩ Hoàng cho biết, bệnh có thể để lại những tổn thương trầm trọng gây suy giảm thị lực nặng và không hồi phục. Kiểm soát huyết áp là phương pháp điều trị duy nhất. Nếu có các biến chứng khác ở mắt thì việc điều trị sẽ do bác sĩ chuyên khoa phụ trách. Chỉ có kiểm soát tốt huyết áp mới phòng ngừa được các tổn thương các mạch máu của mắt, cũng như các cơ quan khác như tim, thận và não.
Lê Phương

9 lời khuyên dinh dưỡng cho người huyết áp cao

Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó trưởng phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Nguyễn Trãi, TP HCM, cho biết chế độ ăn uống không hợp lý với quá nhiều chất béo, ăn quá mặn, sử dụng nhiều thực phẩm chế biến sẵn, hút thuốc lá… là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của bệnh tăng huyết áp hiện nay.
Sự chú trọng chế độ dinh dưỡng của người bị tăng huyết áp sẽ tác động rất lớn đến việc phòng tránh bệnh cũng như những biến chứng nguy hiểm của bệnh.
1. Hạn chế uống rượu
Người mắc bệnh huyết áp cao nhất thiết phải biết hạn chế rượu, không uống nhiều hơn 3 ly rượu nhỏ mỗi ngày đối với đàn ông và 2 ly đối với phụ nữ.
2. Tăng cường sử dụng với bơ thực vật
Nhất thiết phải tránh xa chất béo bão hòa trong thực đơn ăn uống và thay thế tối đa mỡ động vật bằng dầu thực vật. Người cao huyết áp cũng cần thay bơ động vật bằng bơ thực vật.
Nên thay thế tối đa mỡ động vật bằng dầu thực vật. Ảnh: myhealthmy
Nên thay thế tối đa mỡ động vật bằng dầu hoặc bơ thực vật. Ảnh: myhealthmy
3. Không để cân nặng 'vượt chuẩn'
Thừa cân là nguyên nhân gây ảnh hưởng không tốt đến tim và hệ huyết mạch. Khi cân nặng vượt quá trọng lượng cho phép, chứng cao huyết áp sẽ dễ xuất hiện. Vì thế khi có dấu hiệu tăng cân đột ngột và dễ thừa cân, béo phì, bạn cần nhanh chóng cân bằng lại chế độ ăn uống của bản thân và tập luyện thể dục thể thao hợp lý.
4. Cảnh giác với muối ăn
Một người mắc bệnh huyết áp cao chỉ nên sử dụng nhiều nhất 6g muối mỗi ngày. Vì thế, cần tránh để lọ muối ăn và gia vị trên bàn ăn. Ngoài chuyện nấu nướng các món ăn cho nhạt hơn, người cao huyết áp cũng nên tránh các đồ ăn được chế biến sẵn như thịt xông khói, đồ ăn nhanh, một số đồ hộp... vì chúng rất nhiều natri. Bên cạnh đó cũng nên dè chừng muối ăn có trong ngũ cốc của bữa sáng hay trong bánh quy.
5. Hạn chế ăn thịt
Khi bị huyết áp cao, do phải hạn chế chất béo bão hòa nên tốt nhất là chọn những loại thịt càng nạc càng tốt. Hạn chế thịt bò, thịt lợn và thịt cừu, nên chọn cá và thịt gia cầm (nhớ bỏ da).
6. Chọn những phương thức nấu ăn toàn
Cần chọn những cách nấu ít chất béo nhất mà vẫn đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng của đồ ăn. Tốt nhất nên làm chín thức ăn bằng phương thức luộc, hấp hoặc nướng. Hạn chế và tránh ăn chiên, xào đồ ăn.
7. Ưu tiên các đồ ăn ít chất béo
Nên chọn sữa đã gạn kem, sữa chua không đường để sử dụng. Tốt nhất trong trường hợp có thể lựa chọn, nên nghiêng về những sản phẩm càng ít chất béo càng tốt.
8. Sử dụng nhiều với ngũ cốc nguyên vỏ lụa
Để đảm bảo nhu cầu tinh bột của cơ thể, người bị huyết áp cao nên tận dụng các loại ngũ cốc toàn phần. Bên cạnh hàm lượng tinh bột, ngũ cốc còn cung cấp một hàm lượng chất xơ đáng kể.
Người bị huyết áp cao nên tận dụng các loại ngũ cốc toàn phần. Ảnh: webmd
Người bị huyết áp cao nên tận dụng các loại ngũ cốc toàn phần. Ảnh: webmd
9. Bổ sung nhiều rau quả chứa kali
Nên nạp đủ lượng rau xanh và hoa quả mỗi ngày cho cơ thể để có được một sức khỏe tốt nhất. Đối với những người có huyết áp cao, bên bổ sung nhiều hoa quả chứa kali như hoa quả khô, chuối...
Lê Phương

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

Biến chứng thận do tăng huyết áp

Trò chuyện tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe TP HCM, thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó trưởng phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Nguyễn Trãi cho biết, tỷ lệ người bị tăng huyết áp ngày càng tăng và độ tuổi bị tăng huyết áp cũng ngày càng trẻ. Năm 2000, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, toàn thế giới có tới 972 triệu người bị tăng huyết áp và số người bị tăng huyết áp ước tính đến năm 2025 là khoảng 1,56 tỷ người.
Theo bác sĩ Nga, lười vận động, ăn uống không hợp lý với chế độ ăn quá nhiều chất béo, ăn mặn, hút thuốc lá... là những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của căn bệnh này. Một vấn đề khá quan trọng nữa là tỷ lệ người bị tăng huyết áp ngày càng tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển tại châu Á, châu Phi. Tại Việt Nam, thống kê mới nhất năm 2008 cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn là 25,1%. Tăng huyết áp đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ gây tổn thương thận và suy thận giai đoạn cuối. Ảnh minh họa: Lê Phương.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ gây tổn thương thận và suy thận giai đoạn cuối. Ảnh minh họa: Lê Phương.
Bác sĩ Nga cho biết, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ gây tổn thương thận và suy thận giai đoạn cuối. Nguy cơ suy thận tăng theo mức độ tăng huyết áp. Tăng huyết áp dù được điều trị nhưng chưa đạt huyết áp mục tiêu vẫn có nguy cơ bị suy thận. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tăng huyết áp gây suy thận và ngược lại, suy thận lại gây tăng huyết áp. Vấn đề đặt ra là phải kiểm soát được huyết áp để tránh bị suy thận. Đồng thời cần điều trị tốt suy thận mới hạn chế được tăng huyết áp.
Tăng huyết áp và suy thận tác động lẫn nhau
Tình trạng tăng huyết áp cao và kéo dài sẽ làm tổn thương và phá hủy các mạch máu trong cơ thể, làm giảm lượng máu cung cấp đến thận và các cơ quan khác. Huyết áp tăng cao còn phá hủy bộ lọc ở cầu thận, dẫn đến hậu quả là thận không thể loại bỏ những chất cặn bã độc hại cũng như nước dư thừa ra ngoài. Nước ứ thừa ở trong hệ mạch máu ngày một nhiều làm huyết áp lại càng tăng cao hơn. Do đó, tăng huyết áp là nguyên nhân chính dẫn đến suy thận mạn.
Trong cơ thể, thận có chức năng giữ cho huyết áp được ổn định. Khi thận bị tổn thương, khả năng điều hòa huyết áp giảm, làm cho huyết áp bị tăng cao. Nếu bạn bị suy thận, bệnh tăng huyết áp lại làm cho bệnh thận của bạn nặng thêm. Như vậy, tăng huyết áp có thể là một biến chứng của suy thận mạn. Nếu rơi vào tình trạng này, cần thực hiện đúng chỉ định điều trị của bác sĩ nhằm kiểm soát huyết áp ở mức cho phép, hãm tốc độ tổn thương thận và phòng tránh bệnh lý tim mạch bởi tăng huyết áp còn gây tổn thương tim.
Biểu hiện những biến chứng thận ở bệnh nhân tăng huyết áp
Suy thận do tăng huyết áp thường liên quan đến huyết áp tâm thu hơn là huyết áp tâm trương.
Triệu chứng của suy thận có thể chỉ xuất hiện khi chức năng thận còn lại 1/10 so với mức bình thường như sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần…
Tổn thương thận do tăng huyết áp biểu hiện dưới 3 dạng là tiểu albumin vi thể, tiểu protein và suy thận. Vì vậy, đánh giá tổn thương thận trên người tăng huyết áp chủ yếu là dựa vào xét nghiệm.
Triệu chứng tiểu đêm thường gặp ở người tăng huyết áp là hậu quả của phì đại tiền liệt tuyến lành tính đi kèm, hoặc có thể là do bàng quang bị giảm thể tích. Giảm khả năng cô đặc nước tiểu có thể là dấu hiệu sớm của suy thận. Nồng độ creatinin máu tăng phản ánh sự giảm độ lọc cầu thận. Sự đào thải protein gia tăng phản ánh thương tổn mức lọc cầu thận. Albumin niệu vi thể ở người bị tăng huyết áp được xem là yếu tố dự báo bệnh lý tim mạch.
Việc phát hiện chức năng thận bị tổn thương ở người bị tăng huyết áp với bất kỳ các biểu hiện nào kể trên có giá trị dự báo bệnh lý và tử vong do tim mạch trong tương lai.
Ngăn chặn và điều trị suy thận
Một khi đã bị tăng huyết áp thì nguy cơ bị suy thận là khá cao. Người bệnh cần đi khám tại các cơ sở y tế để được làm thêm các xét nghiệm nhằm đánh giá chức năng thận và tổn thương của các cơ quan khác.
Khi đã được chẩn đoán là tăng huyết áp và được bác sĩ điều trị theo phác đồ, người bệnh tăng huyết áp ngoài việc tự theo dõi huyết áp bằng cách đo huyết áp tại nhà và ghi vào sổ theo dõi còn cần phải nghiêm túc tuân thủ việc khám định kỳ để đánh giá chức năng thận và các cơ quan khác.
Trong giai đoạn này, ngoài các xét nghiệm đánh giá mức độ suy thận, bạn còn nên đo lượng kali trong máu, vì khi thận bị suy, lượng kali có thể tăng cao trong máu, rất nguy hiểm cho tim. Mặt khác, một số loại thuốc điều trị tăng huyết áp và suy thận cũng có thể làm tăng lượng kali. Bác sĩ sẽ chỉ định thực đơn ăn kiêng cho bạn nếu lượng kali trong máu bạn tăng cao.
Điều trị nếu bị cả tăng huyết áp và suy thận
Mục tiêu điều trị cần đạt được là kiểm soát huyết áp dưới 130/80mmHg, ngăn chặn thận không bị tổn thương nặng thêm, giảm nguy cơ bị bệnh tim. Để đạt được những mục tiêu này, người bệnh cần tuân thủ theo một phác đồ điều trị phù hợp với bệnh suy thận.
Cần kết hợp ăn kiêng và thực hiện một lối sống phù hợp với từng giai đoạn suy thận:
Giai đoạn 1-2 ăn nhiều trái cây, rau, bơ sữa.
Giai đoạn 2-3 ăn nhạt dưới 2,4 gam muối mỗi ngày, giảm chất béo và cholesterol vì chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim.
Giai đoạn 3-4 để hạn chế những bệnh về xương, bạn cần kiểm soát lượng protein, ăn ít thức ăn chứa nhiều phốtpho (vì phốtpho sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh về xương) như sữa, pho mát, sữa chua, bia, coca, giảm lượng kali trong bữa ăn.
Ngoài ra, bệnh nhân cần phải giảm cân nếu đang quá béo, nên tập thể dục nhẹ nhàng 30 phút mỗi ngày, không uống rượu, bia, không hút thuốc lá. Dùng thuốc điều trị tăng huyết áp phối hợp từ 2 loại trở lên kèm theo thuốc lợi tiểu.
Lê Phương

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Biến chứng mạch máu do tăng huyết áp

Trao đổi tại Ngày hội Phòng, chống tăng huyết áp do Trung tâm truyền thông và giáo dục sức khỏe TP HCM tổ chức, thạc sĩ - bác sĩ Bùi Thanh Quang, Phó khoa điều trị ngoại, Viện tim TP HCM cho biết, tăng huyết áp được xem là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hiện nay. Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra của Viện Tim mạch quốc gia tại 8 tỉnh thành phía Bắc, tỷ lệ bệnh tăng huyết áp chiếm hơn 25% ở người trên 25 tuổi. Một số lượng rất lớn người bị tăng huyết áp chưa được điều trị hoặc điều trị không đầy đủ.
Theo bác sĩ Thanh Quang, bệnh tăng huyết áp về lâu dài sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong. Biến chứng thường gặp nhất của tăng huyết áp là biến chứng mạch máu. Tăng huyết áp gây xơ vữa mạch máu lớn lẫn mạch máu nhỏ trên các cơ quan trong cơ thể, gây nên các bệnh lý suy tim, bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, suy thận, bệnh mạch máu ngoại biên, bệnh lý võng mạc mắt.
Tử vong do biến chứng tim là trường hợp tử vong thường gặp nhất ở người bệnh tăng huyết áp. Tăng huyết áp gây phì đại tâm thất trái, làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, suy tim, đột tử. Kiểm soát tốt huyết áp có thể giúp phục hồi cấu trúc của cơ tâm thất trái và giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch.
Tăng huyết áp làm tăng sự tiến triển xơ vữa ở động mạch vành dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim, từ đó dẫn đến suy tim trái không hồi phục và có thể tử vong.
Bệnh tăng huyết áp về lâu dài sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong.
Bệnh tăng huyết áp về lâu dài sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong. Ảnh minh họa: prediabetescenters
Người bị tăng huyết áp còn có nguy cơ bị xuất huyết não và nhồi máu não. Tại Việt Nam, theo Viện Tim mạch quốc gia, tử vong do tai biến mạch máu não chiếm 1/4 các trường hợp tử vong.
Tỷ lệ bị tai biến mạch máu não tăng lên theo trị số huyết áp, có nghĩa là huyết áp càng cao càng dễ bị tai biến mạch máu não, nhất là tăng huyết áp tâm thu ở người trên 65 tuổi. Người bị tăng huyết áp khi ở tuổi trung niên sẽ dễ bị mất trí nhớ lúc về già.
Khi huyết áp tăng quá mức lâm sàng, tức huyết áp tâm thu lớn hơn 180-200 mmHg, tùy theo từng trường hợp sẽ xảy ra hội chứng bệnh não do tăng huyết áp ác tính. Người bệnh bị nhức đầu dữ dội, buồn nôn, nôn, yếu tay chân, tình trạng tri giác thay đổi. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể diễn tiến nặng hơn, người bệnh sẽ lơ mơ, hôn mê, co giật, thậm chí là tử vong trong vài giờ.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ gây tổn thương thận và suy thận giai đoạn cuối. Nguy cơ suy thận tăng theo mức độ tăng huyết áp. Tăng huyết áp dù được điều trị nhưng chưa đạt huyết áp mục tiêu vẫn có nguy cơ bị suy thận. Suy thận do tăng huyết áp thường liên quan đến huyết áp tâm thu hơn là huyết áp tâm trương.
Tăng huyết áp còn có thể dẫn đến bệnh mạch máu ngoại biên. Biến chứng mạch máu ngoại biên góp phần làm trầm trọng hơn tình trạng bệnh tim mạch của người bệnh. Tăng huyết áp về lâu dài làm xơ vữa, gây hẹp và tắc nghẽn các động mạch ngoại biên như hẹp động mạch chi dưới, hẹp động mạch cảnh. Hẹp động mạch ngoại biên nhiều khi không có triệu chứng nên rất dễ bị bỏ sót.
Theo bác sĩ Quang, triệu chứng hay gặp của hẹp động mạch chi dưới là đau cách hồi. Người bệnh khi đi xa khoảng 50-100m là có cảm giác đau cả hai bắp chân, phải ngồi nghỉ. Phương pháp chẩn đoán đơn giản hẹp động mạch chi dưới là đo huyết áp cổ chân và cánh tay (chỉ số ABI). Nếu chỉ số này dưới 0,9 thì nghi ngờ có hẹp động mạch chi dưới, người bệnh cần được xét nghiệm chuyên sâu hơn để có chẩn đoán chính xác.
Bệnh động mạch ngoại biên khác thường hay gặp là hẹp động mạch cảnh. Nếu người bị tăng huyết áp lâu năm thường xuyên than chóng mặt, mặc dù huyết áp đang được kiểm soát tốt thì cần được kiểm tra siêu âm doppler động mạch cảnh. Nếu kết quả cho thấy hẹp động mạch cảnh trên 70%, người bệnh sẽ được thầy thuốc chỉ định điều trị phòng ngừa tai biến do vỡ mảng xơ vữa.
Thống kê cho thấy, trong 100 người bị tăng huyết áp có triệu chứng chóng mặt và có hẹp động mạch cảnh trên 70% thì trong vòng 30 ngày từ khi phát hiện triệu chứng có 8 người bị nhồi máu não và cứ sau mỗi năm kể từ khi phát bệnh thì có thêm 13 người bị nhồi máu não. Lưu ý, không có triệu chứng chóng mặt nhưng kết quả siêu âm cho thấy hẹp động mạch cảnh trên 80% thì trong 100 người bệnh vẫn có 5 người có nguy cơ bị nhồi máu não mỗi năm.
Ngoài ra, tăng huyết áp có thể gây ảnh hưởng trầm trọng đến mắt, gây xuất tiết võng mạc, phù gai thị, xuất huyết võng mạc gây nhìn mờ, nặng hơn là tắc mạch máu nuôi võng mạch gây mù.
Bác sĩ Quang cho biết, để phòng tránh các biến chứng mạch máu, cần phải kiểm soát tốt tăng huyết áp, điều trị toàn diện tăng huyết áp và các biện pháp đi kèm như đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, hội chứng chuyển hóa... Nếu điều trị tốt tăng huyết áp có thể giảm 20-25% nhồi máu cơ tim, 35-40% nguy cơ đột quỵ, 50% nguy cơ suy tim, 30-40% nguy cơ tử vong do tim mạch và giảm nguy cơ bị đái tháo đường.
Lê Phương

Phòng tránh biến chứng do tăng huyết áp

Tăng huyết áp là bệnh lý phổ biến và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Tăng huyết áp gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Bệnh tăng huyết áp cần điều trị lâu dài, liên tục và đạt được huyết áp mục tiêu mong muốn nhằm hướng tới cải thiện chất lượng lâu dài cho cuộc sống người bệnh. Nếu điều trị tốt tăng huyết áp có thể giảm 20-25% nhồi máu cơ tim, 35-40% nguy cơ đột quỵ, 50% nguy cơ suy tim, 30-40% nguy cơ tử vong do tim mạch và giảm nguy cơ bị đái tháo đường.
Theo thạc sĩ, bác sĩ Bùi Thanh Quang, Phó khoa điều trị ngoại, Viện Tim TP HCM, mỗi người cần xác định mục tiêu huyết áp cần đạt được. Với người bệnh đái tháo đường, suy thận, tai biến mạch máu não, cần đạt huyết áp dưới 130/80 mmHg. Người suy tim cần giữ huyết áp ở mức dưới 120/80 mmHg. Người trên 80 tuổi cần duy trì huyết áp tâm thu dưới 145-150, huyết áp tâm trương dưới 90 mmHg. Với nhóm người không có bệnh lý khác đi kèm, cần giữ huyết áp dưới 140/90 mmHg.
Mỗi người cần xác định một mục tiêu huyết áp cần đạt được
Mỗi người cần xác định một mục tiêu huyết áp cần đạt được. Ảnh: wp.vcu.edu
Theo bác sĩ Thanh Quang, một số biện pháp phòng tránh biến chứng do tăng huyết áp như sau:
Biện pháp không dùng thuốc, áp dụng khi huyết áp tăng trên 120/80 mmHg nhưng dưới 160/90 mmHg.
- Cai thuốc lá.
- Cai bia rượu đối với người nghiện nặng, có thể uống dưới 30ml rượu mạnh, dưới 720 ml bia trong một ngày.
- Giảm ăn mặn, ăn ít hơn 4g muối mỗi ngày, ít hơn 1 muỗng cà phê muối, hoặc ít hơn 2 muỗng canh nước mắm hoặc nước tương.
- Chế độ ăn nhiều rau, ít trái cây, ít béo.
- Tập thể dục ít nhất 30-45 phút mỗi ngày và tập đều đặn 7 ngày một tuần.
- Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì.
Dùng thuốc hạ huyết áp
Nếu thực hiện biện pháp không dùng thuốc mà vẫn chưa đạt được huyết áp mục tiêu mong muốn thì cần phối hợp thêm thuốc hạ huyết áp. Ngày nay thuốc hạ huyết áp có rất nhiều nhóm và rất nhiều loại thuốc mới có tác dụng tốt. Mỗi loại thuốc có ưu thế cho từng nhóm đối tượng tăng huyết áp. Vì thế, cần có ý kiến và chỉ định của thầy thuốc, người bệnh không nên tự ý sử dụng thuốc hoặc sao chép đơn thuốc của người khác để tự điều trị.
Điều trị đái tháo đường
Người bị tăng huyết áp có kèm theo đái tháo đường nếu không kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp thì nguy cơ bị bệnh tim mạch rất cao. Kiểm soát tốt đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 giúp giảm 24% nguy cơ biến chứng tim mạch. Mục tiêu HbA1C cần đạt ở người có nguy cơ tim mạch cao, đã từng bị nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não là dưới 7%.
Rối loạn lipide máu
Người bị tăng huyết áp có kèm rối loạn chuyển hóa lipid nếu không được điều trị tốt cả 2 bệnh này thì nguy cơ biến chứng tim mạch tăng rất cao. Ngược lại, nếu điều trị bệnh tốt thì cứ giảm được 10% trị số huyết áp và 10% cholesterole toàn phần sẽ giúp giảm tới 45% nguy cơ bị tử vong do biến chứng tim mạch.
Bác sĩ Quang lưu ý, sau một thời gian điều trị huyết áp đã ổn định, đạt huyết áp mục tiêu thì không nên tự ý dừng thuốc mà duy trì điều trị theo liều lượng được điều chỉnh bởi thầy thuốc. Chỉ ngừng thuốc khi có ý kiến chỉ định của thầy thuốc.
Lê Phương

Thứ Năm, 12 tháng 10, 2017

Biến chứng tim mạch của bệnh cao huyết áp

Trò chuyện tại Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe TP HCM, bác sĩ Bùi Nguyễn Hữu Văn, Phó Khoa Hồi sức tích Nội tim mạch, Viên tim TP HCM cho biết, huyết áp được xem là cao khi đo lúc nghỉ ngơi (đo ít nhất 2 lần, ở 2 tay) có kết quả từ 140/90 mmHg trở lên hoặc đo bằng máy đo huyết áp động 24h có kết quả từ 130/80mmHg. Ban đêm thì huyết áp từ 125/75 mmHg trở lên được xem là cao.
Huyết áp cao có thể gây ra nhiều biến chứng ở tim. Bình thường hoạt động của tim gồm 2 thời kỳ kế tiếp nhau. Ở thời kỳ tâm thu, tim (cụ thể là tâm thất) co bóp tống máu vào các động mạch và đi đến các cơ quan trong cơ thể. Thời kỳ tâm trương, sau khi co bóp xong, tim vào thời kỳ nghỉ. Trong thời kỳ này, cơ tâm thất dãn ra, hút máu từ các tĩnh mạch về đổ đầy tâm thất chuẩn bị cho kỳ tâm thu kế tiếp.
Huyết áp cao có thể dẫn đến nhiều biến chứng tim mạch nguy hiểm.
Huyết áp cao có thể dẫn đến nhiều biến chứng tim mạch nguy hiểm. Ảnh minh họa: lavanyaayurveda
Một số biến chứng ở tim có thể gặp ở bệnh nhân cao huyết áp
Phì đại thất trái
Là biến chứng rất hay gặp ở người bị cao huyết áp lâu ngày, người lớn tuổi, béo phì và người có huyết áp tăng cao không kiểm soát, chiếm tỷ lệ 10 đến 20%.
Huyết áp tăng làm tăng áp lực lên thành tâm thất trái khiến tâm thất co bóp khó khăn, do đó các sợi cơ tâm thất phải tăng kích thước, tăng thời gian co bóp để duy trì lượng máu bơm ra ngoài. Tình trạng này tiếp diễn lâu ngày sẽ làm cơ tâm thất trái bị phì đại.
Phì đại thất trái làm tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và tử vong ở người bệnh cao huyết áp. Khi có biến chứng phì đại thất trái, bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì hoặc có một số biểu hiện như tim đập nhanh, khó thở khi đi bộ nhanh, khi leo cầu thang, hụt hơi, mau mệt khi gắng sức, có thể khó thở khi nằm, phải kê cao gối.
Suy tim tâm trương
Khoảng 1/3 bệnh nhân có phì đại thất trái có suy tim tâm trương. Cao huyết áp lâu ngày làm cho thành tâm thất bị phì đại, bị xơ hóa, giảm khả năng đàn hồi nên không thể giãn ra trong thời kỳ tâm trương, làm hạn chế lượng máu về tim. Hậu quả là ứ đọng máu ở các tĩnh mạch phổi và tĩnh mạch hệ thống.
Bệnh nhân suy tim tâm trương sẽ có các biểu hiện như mệt, khó thở khi gắng sức, ho về đêm lúc nghỉ do ứ đọng ở phổi. Ngoài ra, người bệnh có thể phù chân, tĩnh mạch cổ nổi, tăng cân do ứ máu ở ngoại biên.
Suy tim tâm thu
Là tình trạng tim giảm khả năng co bóp tống máu trong thời kỳ tâm thu dẫn đến không cung cấp đủ oxy và dưỡng chất cho nhu cầu cơ thể. Suy tim tâm thu là biến chứng rất nặng, làm hạn chế sinh hoạt thường ngày của người bệnh, tăng tỷ lệ tử vong và bệnh tật.
Khi có biến chứng này, người bệnh sẽ có một số triệu chứng:
- Khó thở, mệt khi gắng sức. Lúc đầu khó thở khi gắng sức nhiều, càng về sau khó thở xảy ra khi gắng sức nhẹ và cuối cùng khó thở xảy ra cả lúc nghỉ.
- Ban đêm khi nằm ngủ bệnh nhân ho, khó thở. Trường hợp nặng, bệnh nhân phải ngồi để thở.
- Phù chân, tăng cân.
Thiếu máu cơ tim
Động mạch vành là hệ thống cung cấp máu cho cơ tim. Thiếu máu cơ tim xảy ra khi lượng máu cung cấp đến cơ tim bị giảm do động mạch vành bị tắc nghẽn. Bệnh nhân bị động mạch vành có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp cao và ngược lại, tăng huyết áp là nguy cơ của bệnh động mạch vành.
Người bị thiếu máu cơ tim sẽ có triệu chứng:
- Cảm giác đè nặng, đau tức ở vùng ngực trái, kéo dài 15-20 phút (có khi đau dữ dội, kéo dài là do nhồi máu cơ tim).
- Đau lan sang cánh tay trái, lan lên đến cằm.
- Xảy ra khi người bệnh gắng sức, bị stress tình cảm, giảm khi người bệnh nằm nghỉ.
Rung nhĩ
Bình thường tâm nhĩ co bóp đều đặn tống máu vào tâm thất trong thời kỳ tâm trương. Rung nhĩ là do các xung điện bất thường trong tâm nhĩ làm tâm nhĩ mất khả năng co bóp, chỉ "rung" với nhịp không đều, hỗn loạn, khiến tim đập không đều, đập nhanh. Rung nhĩ làm tăng nguy cơ đột quỵ và suy tim.
Ở các nước phương Tây, phần lớn các trường hợp rung nhĩ là do tăng huyết áp. Tăng huyết áp làm suy tim tâm trương, gây ứ đọng máu và tăng áp lực trong tâm nhĩ, lâu ngày làm tâm nhĩ dãn và hình thành các xung điện bất thường trong tâm nhĩ gây rung nhĩ.
Phình, bóc tách động mạch chủ
Động mạch chủ là động mạch chính dẫn máu từ tim đến các cơ quan trong cơ thể. Tăng huyết áp làm tăng áp lực trên thành động mạch, lâu ngày làm thành mạch xơ cứng, dày, lớp nội mạc (lớp trong cùng của động mạch) bị xơ vữa. Động mạch chủ có thể bị giãn, lớp nội mạc có thể bị nứt, vỡ gây nên phình hoặc bóc tách.
Bệnh nhân có thể có các triệu chứng sau:
- Đau dữ dội vùng ngực, bụng hoặc lưng tùy vị trí bị bóc tách.
- Buồn nôn và nôn,
- Co cứng cơ thành bụng,
- Toát mồ hôi lạnh,
Lưu ý, bệnh nhân bị giãn hoặc phình động mạch chủ có thể không có triệu chứng gì.
Phòng ngừa biến chứng tim mạch do tăng huyết áp
- Thay đổi lối sống tích cực, giảm cân ở người thừa cân, béo phì. Khi giảm được 10kg cân nặng sẽ giúp giảm huyết áp từ 5-20 mmHg.
- Tăng cường vận động. Tập thể dục 30-60 phút đều đặn mỗi ngày giúp giảm huyết áp 4-9 mmHg.
- Dinh dưỡng hợp lý, cân bằng, giảm muối, giảm chất béo, ăn nhiều rau quả
- Hạn chế uống rượu, bia, không hút thuốc lá. Hút thuốc lá có thể làm huyết áp tăng 10 mmHg kéo dài đến 1 giờ sau hút. Tránh môi trường có khói thuốc nhằm tránh hút thuốc thụ động.
- Tuân thủ chế độ điều trị, kiểm soát tốt huyết áp. Uống thuốc đều đặn, đúng và đủ liều lượng, tái khám theo đúng lịch hẹn bác sĩ.
- Khi thấy có các triệu chứng bất thường cần đến gặp bác sĩ để khám và tư vấn.
Lê Phương

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2017

Huyết áp thấp, bệnh không thể coi thường

Cũng từa tựa như nỗi lo về vật giá leo thang, hễ hỏi mười người về bệnh do huyết áp thì chín nghĩ ngay đến huyết áp cao. Vì định kiến về hình ảnh ghê rợn tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim là do bệnh cao huyết áp nên nhiều người xem chuyện huyết áp thấp là chuyện không mấy quan trọng, hoặc đó là chuyện trời kêu ai nấy dạ, nghĩa là đành chịu vậy. Theo một kết quả thống kê, trong 10 người biết rõ mình có huyết áp sát đất thì chỉ có 2 người gõ cửa thầy thuốc.
Nhưng có đến thầy thuốc vẫn chưa xong! Nếu so sánh về tiến trình điều trị, chi phí chữa chạy…, việc điều trị huyết áp thấp lại không đơn giản như trị bệnh huyết áp cao vì liệu pháp đòi hỏi thời gian dài lại thêm sự cộng tác chủ động của người bệnh với nhiều thay đổi trong nếp sinh hoạt. Kẹt cho người bệnh lẫn thầy thuốc là thuốc hạ huyết áp hiện nay không thiếu, thậm chí thừa là khác, nhưng thuốc cải thiện huyết áp trong thời gian ngắn vẫn chưa có.
Biết vậy nhưng vẫn phải điều trị huyết áp thấp đến nơi đến chốn. Nếu tưởng huyết áp thấp chỉ làm chóng mặt, nhức đầu thì lầm. Kết quả nghiên cứu trong thập niên gần đây cho thấy số người bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim có huyết áp thấp thậm chí ngang ngửa với số đối tượng có huyết áp cao. Đáng nói hơn nữa là số trường hợp tử vong với huyết áp thấp thậm chí cao hơn số nạn nhân trước đó có huyết áp cao.
huyet-ap-thap-jpg[1482088941].jpg
Ảnh minh họa: nps.org
Đừng quên huyết áp thấp đồng nghĩa với tình trạng tim không thể đẩy máu đến mọi ngõ ngách của cơ thể. Vùng càng sâu càng xa càng chịu thiệt thòi. Tình trạng huyết áp thấp càng kéo dài, tế bào càng khó tránh thiếu dưỡng khí. Khi đó nhiều bệnh chứng nghiêm trọng có thể thành hình một cách oan uổng, từ thiếu máu cơ tim bước qua trầm uất thậm chí cho đến ung thư! Nên nhớ là thầy thuốc đã phát hiện trong vùng trung tâm của ung bướu ác tính bao giờ cũng có hiện tượng thiếu dưỡng khí!
Quá đơn giản để phát hiện huyết áp thấp. Chỉ cần đo huyết áp vài lần. Bên cạnh đó, cần lưu ý khuynh hướng huyết áp thấp trong các trường hợp như:
- Thiểu năng tuyến giáp
- Thiếu máu do rong kinh, viêm loét dạ dày tá tràng, sốt rét, lao phổi…
- Suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh
- Thiếu cân vì kiêng khem thái quá để làm gầy bằng mọi giá
- Thiếu ngủ do công việc, do stress
- Lạm dụng thuốc an thần, thuốc trị trầm cảm
Nhiều nạn nhân của chứng huyết áp thấp chưa được điều trị với phác đồ toàn diện bao gồm nhiều nhân tố như:
- Vận động thể dục thể thao để tập luyện trái tim thay vì ngồi yên chờ sung rụng.
- Chế độ dinh dưỡng đầy đủ muối ăn và nước uống thay vì ăn lạt thái quá.
- Cải thiện chức năng tuần hoàn thông qua trục thần kinh – nội tiết, chẳng hạn với các bài thuốc Đông y, kỹ thuật dưỡng sinh, nghĩa là các giải pháp an toàn cho cơ thể vốn đã mệt nhoài của nạn nhân.
Huyết áp cao hay thấp đều là bệnh. Do đó, đừng xem thường huyết áp thấp. Đừng quên hạ huyết áp thường kéo theo hạ canxi, hạ đường huyết. Tình trạng này, cũng theo tiếng chuông báo động của ngành y, là bệnh lý đang rất phổ biến trong giới phụ nữ trẻ làm việc trong văn phòng cao ốc đóng kín.
Bác sĩ Lương Lễ Hoàng

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Phòng ngừa đột quỵ ở người cao huyết áp

Ông Hà, cán bộ về hưu sống quận 2, TP HCM, bị cao huyết áp nhưng vẫn thường xuyên hút thuốc lá. Một lần đi nhậu về, ông xuất hiện các triệu chứng nói không rõ tiếng, run tay nhưng người nhà cứ tưởng ông say rượu chứ không nghĩ đột quỵ. Đến lúc ông Hà ngã, gia đình mới hoảng hốt đưa vào bệnh viện. Nhờ cấp cứu kịp thời, bệnh lại ở giai đoạn nhẹ nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ông Hà bị liệt nửa người, sau khi xuất viện vẫn phải tích cực điều trị tại nhà.

Theo bác sĩ Chung Bá Ngọc, Phó Khoa Nội Tim mạch, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, đột quỵ hay còn gọi tai biến mạch máu não, là căn bệnh nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao với nhiều di chứng nguy hiểm.

Bệnh nhân bị tai biến đang điều trị tại bệnh viện.
Bệnh nhân bị tai biến đang điều trị tại bệnh viện. Ảnh: Lê Phương.

Đột quỵ có thể là tình trạng xuất huyết não hoặc thiếu máu não. Phần não được cấp máu bởi động mạch bị tổn thương sẽ rơi vào tình trạng thiếu ôxy và tế bào não sẽ chết chỉ sau vài phút. Tăng huyết áp làm tăng áp lực thường xuyên của dòng máu lên trên thành mạch. Khi tình trạng này kéo dài làm cho thành mạch bị dãn dần ra xơ vữa,vôi hóa… và xuất hiện những tổn thương. Khi những động mạch đưa máu lên não bị tắc nghẽn, não sẽ thiếu chất dinh dưỡng và ôxy, dẫn đến đột quỵ và tử vong.

Ở người bệnh tăng huyết áp, nguy cơ đột quỵ gấp nhiều lần so với người bình thường. Người bị đột quỵ do tăng huyết áp sẽ gặp phải rất nhiều di chứng như nói ngọng, méo mồm, mất trí nhớ hoặc nặng nề hơn như liệt nửa người, sống thực vật, tàn phế suốt đời, không còn khả năng lao động… Cùng với đó là gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội trong việc chăm sóc, điều trị.

Vì vậy, nhận biết và xử lý kịp thời các dấu hiệu của đột quỵ vô cùng quan trọng.

Theo bác sĩ Ngọc, cần lưu ý khi có những biểu hiện như:

- Đau đầu dữ dội.

- Có sự thay đổi tri giác, run tay, run chân, cử động khó khăn.

- Rối loạn cảm giác thần kinh, mất ý thức, lơ mơ, lẫn lộn hoặc hôn mê đột ngột.

- Nói ngọng, yếu một bên cơ mặt, miệng méo, nuốt khó.

- Nhìn mờ...

Khi người bệnh có một trong các triệu chứng nêu trên cần nhanh chóng đến cơ sở y tế. Đối với người bị đột quỵ, 3 giờ đầu là thời gian vàng, vì vậy cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế càng nhanh càng tốt.

Trong quá trình vận chuyển, cần đặt người bệnh nằm chỗ thoáng, nghiêng đầu sang một bên, nếu bị nôn, chảy dãi thì cần nhẹ nhàng móc hết đờm dãi, dùng khăn lau sạch, để đường thở thông thoáng cho bệnh nhân dễ thở.

"Không tự ý cho bệnh nhân uống thuốc, đặc biệt là ngậm thuốc hạ huyết áp vì nếu huyết áp hạ, máu sẽ không được bơm lên não, dẫn đến tổn thương với não càng nặng nề, gây nguy hiểm hơn", bác sĩ Ngọc lưu ý.

Nhiều người thường nhầm lẫn các dấu hiệu của đột quỵ với hiện tượng trúng gió nên xoa dầu nóng, cạo gió…, vừa làm mất thời gian cấp cứu vừa làm cho bệnh càng nguy hiểm hơn.

Đa phần người bệnh khi đã bị tai biến thì thời gian phục hồi rất chậm. Do đó, bệnh nhân cần phải kiên nhẫn điều trị, tập luyện theo hướng dẫn của bác sĩ.

Với người cao huyết áp, để phòng ngừa tai biến, trước hết cần phải kiểm soát và điều trị tốt tăng huyết áp, cần giữ được huyết áp mục tiêu, đưa xuống mức ổn định 140/90 mmHg. Cần điều chỉnh lối sống hợp lý, tuân thủ 5 nguyên tắc:

- Thực hiện chế độ giảm cân nếu thừa cân.

- Giảm ăn mặn.

-Thực hiện chế độ ăn theo khuyến cáo, nên ăn nhiều cá, nhiều rau, củ, hạn chế tinh bột, đường, giảm sữa béo, mỡ, thịt đỏ…

- Tập thể dục trên 30 phút một ngày, tùy theo sức khỏe và khả năng, tình trạng bệnh của từng người mà lựa chọn hình thức thể dục phù hợp. Hình thức đơn giản nhất được khuyến khích là duy trì việc đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày.

- Hạn chế bia rượu, ngưng thuốc lá.

Ngoài ra, cần giữ cuộc sống tinh thần thoải mái. Chính cuộc sống căng thẳng sẽ ảnh hưởng hệ thần kinh làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ, những người bị tăng huyết áp có nguy cơ cao đột quỵ là những người trên 55 tuổi, tiền sử gia đình có người đột quỵ, người béo phì, ít vận động, mắc một số bệnh như tăng mỡ máu, thận mãn, đái tháo đường…

Khi bị cao huyết áp, cần phải uống thuốc, tuân thủ đúng điều trị và lịch tái khám theo hẹn của bác sĩ. Theo bác sĩ Ngọc, rất nhiều người khi thấy khỏe mạnh, huyết áp bình thường thì tự động ngưng thuốc. Trên thực tế, huyết áp tuy bình thường nhưng nếu bỏ điều trị thì có thể tăng vọt trở lại bất cứ lúc nào, nhất là trên cơ địa hút thuốc, đái tháo đường, bệnh nhân đã có tổn thương mạch máu thì rất dễ bị vỡ bất ngờ. Trong quá trình điều trị, khi xuất hiện những triệu chứng bất thường thì cần nhanh chóng đi khám.

Cũng không ít trường hợp, khi người bệnh dùng thuốc thấy ổn định là tiếp tục sử dụng toa thuốc cũ trong vòng nhiều tháng liền mà không đi tái khám. Điều này cũng rất nguy hiểm. Trên cơ sở của việc thăm khám thường xuyên, bác sĩ điều trị sẽ cân nhắc thay đổi thuốc tùy theo từng giai đoạn, sự tiến triển của bệnh để tránh những biến cố bất thường, bác sĩ Ngọc lưu ý.

Lê Phương

Đo huyết áp đúng cách tại nhà

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng (Trung tâm Oxy cao áp TP HCM) lưu ý những điều cần thiết khi đo huyết áp tại nhà.

Trong khi hầu như tất cả y sĩ đoàn trên thế giới liên tục báo động về mối nguy khó lường của bệnh huyết áp cao thì việc theo dõi huyết áp, ngay cả ở các nước đã có mạng lưới y tế với cấu trúc đã ổn định, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Đó chính là một trong các lý do khiến nhiều người phải sống kiếp phế nhân oan uổng vì tai biến mạch máu não.

Khi đo lần đầu cần đo cả hai tay để sau đó chọn cánh tay với huyết áp có khuynh hướng cao hơn. Ảnh: ykhoa
Khi đo lần đầu cần đo cả hai tay để sau đó chọn cánh tay với huyết áp có khuynh hướng cao hơn. Ảnh: ykhoa

Muốn theo dõi huyết áp lại quá đơn giản, vì chỉ cần đo huyết áp, nhất là khi huyết áp kế hiện nay chính xác và quá tiện dụng nếu so với trước đây. Ấy thế mà khi thăm dò một nhóm 50 người bị cao huyết áp, đã có máy đo huyết áp, về thao tác đo huyết áp thì kết quả lại không có gì đáng phấn khởi: 24 người sử dụng máy đo không đúng cách; 28 người chưa hiểu huyết áp là gì.

Muốn đo huyết áp cho đúng cần lưu ý:

1. Tư thế

Bệnh nhân phải chọn tư thế ngồi thoải mái. Trước đó nên thư giãn 5 phút. Đo huyết áp nếu muốn thực sự chính xác không thể mất dưới 10 phút. Không đo huyết áp ngay sau khi chạy nhanh, leo cầu thang (trừ khi thầy thuốc cần đo lúc gắng sức), vừa mới ăn no, quá đói, quá mệt…, vì huyết áp khi đó cao hay thấp hơn con số trung thực.

2. Vị trí đo huyết áp

Với máy đo điện tử, có thể đo huyết áp ở bắp tay hay cổ tay miễn là điểm cảm ứng trong băng quấn tay (sensor) phải nằm ngang mực tim. Nếu đo ở bắp tay có thể đặt cánh tay nằm ngửa trên mặt bàn với điểm cảm ứng nằm trên nếp khuỷu tay khoảng 2cm. Nếu đo ở cổ tay thường phải gập cánh tay một góc khoảng 45 độ để cổ tay ngang với trái tim. Do đó, đo huyết áp ở cổ tay dễ sai lệch hơn đo ở bắp tay vì người đo khó giữ cánh tay cho yên.

3. Phương tiện

- Máy đo: Nói chung, máy đo hiện nay hầu như đều có độ chính xác cao. Muốn chắc chắn nên so sánh kết quả của máy tự động với máy kinh điển đo bằng thính lực. Nếu dùng máy điện tử tự động nên chọn máy:

+ Vận hành đơn giản chỉ với một nút (one touch) để người đo đỡ phân tâm.

+ Bơm nhanh và không gây tiếng động lớn khi bơm hơi để người đo bớt lo lắng trong khi chờ đợi.

+ Có tính cảm ứng cao thể hiện qua dấu hiệu máy ngưng vận hành ngay khi cánh tay cử động thay vì tiếp tục bơm rồi cuối cùng báo lỗi.

- Bao quấn tay: Phải dài tối thiểu 33 cm nếu đo ở bắp tay và 19,5 cm nếu đo ở cổ tay. Nếu bao quá dài hay quá ngắn do người quá ốm hay quá mập phải thay bao khác với chiều dài thích hợp. Bao khi quấn phải chặt nhưng không gây cảm giác khó chịu cho người đo.

4. Thao tác

- Không ăn, không uống, không nói trong lúc đo huyết áp vì sai lệch kết quả.

- Khi đo lần đầu cần đo cả hai tay để sau đó chọn cánh tay với huyết áp có khuynh hướng cao hơn.

- Nên đo huyết áp ngày hai lần, buổi sáng trước khi uống thuốc và buổi chiều sau bữa ăn khoảng 1 giờ. Ghi tất cả kết quả với ngày và giờ đo vào sổ để thầy thuốc tiện việc đánh giá trong lần tái khám.

5. Kết quả

- Phải ghi cả hai trị số thu tâm (số lớn) và trương tâm (số nhỏ) vì thầy thuốc chỉ có thể định bệnh cũng như đánh giá diễn tiến khi có đủ hai trị số.

- Trị số huyết áp không cố định, thay đổi theo nhịp sinh học, trọng lượng, nếp sinh hoạt…, thường có khuynh hướng cao hơn vào buổi sáng sớm, đúng ngọ và buổi tối. Do đó, không nên mất bình tĩnh nếu thấy huyết áp trong ngày dao động ít nhiều.

+ Huyết áp được định nghĩa là cao nếu huyết áp thu tâm >140 và huyết áp trương tâm >90. Tuy vậy, không nên coi thường huyết áp với trị số 135/85 nếu kéo dài nhiều ngày. Mặt khác, trị số huyết áp đơn phương không phản ánh mức độ nghiêm trọng mà là khoảng sai biệt giữa hai trị số. Khoảng này càng hẹp càng nguy hiểm. Thí dụ: huyết áp 150/90 (sai biệt là 60) tuy thuộc về huyết áp cao nhưng ít nguy hiểm bằng huyết áp 140/100 (sai biệt là 40).

+ Nếu ghi nhận huyết áp cao nên nằm nghỉ 15-30 phút rồi đo lại. Nếu huyết áp vẫn cao nên tham vấn ý kiến thầy thuốc cho sớm thay vì tự điều trị hay chần chờ.

+ Ðừng quên là kết quả rất dễ sai lệch nếu máy đo sắp hết pin. Nếu cẩn thận nên thay pin mới và đo lại huyết áp.

Đo huyết áp là tối cần thiết. Nhưng nếu đo không đúng cách rồi dựa vào kết quả sai lệch để quyết định uống thuốc hay không uống thuốc thì nhiều khi tai hại không kém việc quên đo huyết áp. Rất thường khi giải pháp của một vấn đề phức tạp lại tương đối đơn giản. Muốn tránh hậu quả của bệnh cao huyết áp phải biết huyết áp có cao hay không.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

Các loại thực phẩm phòng và trị cao huyết áp

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch sẽ lên đến 87% ở những người bị cao huyết áp do cholesterol cao, ít bổ sung vitamin A và vitamin E. Vì thế bác sĩ khuyên mọi người nên bổ sung vitamin trong bữa ăn hàng ngày để phòng và trị chứng cao huyết áp. Cụ thể các loại vitamin đó có trong một số thực phẩm quen thuộc như:

1. Vitamin E:

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới dùng hơn 30 đơn vị vitamin E giảm 37% nguy cơ bệnh tim mạch. Những người muốn giảm cao huyết áp bằng vitamin E nên sử dụng 800 đơn vị vitamin E tự nhiên mỗi ngày.

Một số thực phẩm chứa vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên như: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu...

huongduong-jpg-1355118244_500x0.jpg
Hạt hướng dương giúp phòng và trị cao huyết áp. Ảnh: Thaphimex.

Y văn thế giới ghi rõ, vitamin E là chất chống ôxy hoá. Nó có tác dụng ngăn ngừa các tế bào mỡ trong cơ thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cao huyết áp, bảo vệ các động mạch khỏi ảnh hưởng của cholesterol LDL bị ôxy hoá.

2. Vitamin C:

Trong thiên nhiên, vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươi. Thông thường, các loại rau quả trồng ở nơi đủ ánh sáng có hàm lượng chất này cao hơn.

Vitamin C có tác dụng bảo vệ mạch máu, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, cao huyết áp. Hơn nữa sự có mặt của vitamin này giúp ngăn ngừa ảnh hưởng của các gốc tự do có hại cho thành mạch máu, làm lành vùng thành mạch bị tổn thương, ngăn hình thành mảng bám tại những nơi có vết thương và tăng lượng cholesterol tốt HDL.

Các nhà nghiên cứ khuyên những người bị cao huyết áp, lượng vitamin C tối thiểu nên dùng là 2.500 mg vitamin C mỗi ngày.

3.Vitamin A:

Vitamin A được tìm thấy ở nhiều nguồn thực phẩm như: Cá thu, cá trích, những loại quả màu vàng và rau xanh sẫm có chứa một lượng lớn tiền vitamin A.

ca-thu1-jpg-1355118244_500x0.jpg
Nên bổ sung cá vào khẩu phần ăn hàng ngày để hạn chế nguy cơ bị cao huyết áp. Ảnh: wp.

Vitamin A giúp hoà tan chất béo và ngừa cholesterol xấu LDL do có tác động tích cực đến các tế bào mỡ.

Lưu ý: Dùng vitamin A với liều lượng cao rất nguy hiểm. Vì thế bệnh nhân cao huyết áp muốn chỉ nên dùng 5.000 đơn vị vitamin A mỗi ngày.

4. Vitamin "tinh thần", đó chính ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày:

Các nhà khoa học trường Đại học Y Harvard ở Boston, Mỹ đã chỉ ra thiếu ngủ và tình trạng căng thẳng kéo dài là tác nhân làm tăng nguy cơ cao huyết áp. Vì thế huyết áp có thể được kiểm soát bằng "phương thuốc" đơn giản là tăng thêm thời gian ngủ. Riêng với người có dấu hiệu bị cao huyết áp chỉ cần đi ngủ sớm hơn một tiếng đồng hồ vào ban đêm sẽ phục hồi được sức khỏe trong vòng 6 tuần.

Nghiên cứu này được đăng trên trang Journal of Sleep Research. Qua đây, các nhà khoa học đang đệ trình ngành y tế nên đưa loại "vitamin ngủ" này vào quy định điều trị chứng cao huyết áp.

Ngọc Vĩnh

Thực phẩm phòng và trị cao huyết áp

Nguy cơ mắc bệnh tim mạch lên đến 87% ở người bị cao huyết áp do cholesterol cao, ít bổ sung vitamin A và vitamin E. Vì thế bác sĩ khuyên mọi người nên bổ sung vitamin trong bữa ăn hàng ngày để phòng và trị chứng cao huyết áp.

Cụ thể một số thực phẩm quen thuộc như:

1. Vitamin E: 

Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới dùng hơn 30 đơn vị vitamin E giảm 37% nguy cơ bệnh tim mạch. Những người muốn giảm cao huyết áp bằng vitamin E nên sử dụng 800 đơn vị vitamin E tự nhiên mỗi ngày.

Một số thực phẩm chứa vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên như: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu...

Hạt hướng dương giúp phòng và trị cao huyết áp. Ảnh:

Hạt hướng dương giúp phòng và trị cao huyết áp. Ảnh: Thaphimex.

Y văn thế giới ghi rõ, vitamin E là chất chống ôxy hóa. Nó có tác dụng ngăn ngừa các tế bào mỡ trong cơ thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cao huyết áp, bảo vệ các động mạch khỏi ảnh hưởng của cholesterol LDL bị ôxy hóa. 

2. Vitamin C: 

Trong thiên nhiên, vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươi. Thông thường, các loại rau quả trồng ở nơi đủ ánh sáng có hàm lượng chất này cao hơn.

Vitamin C có tác dụng bảo vệ các mạch máu, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, cao huyết áp. Hơn nữa sự có mặt của vitamin này giúp ngăn ngừa ảnh hưởng của các gốc tự do có hại cho thành mạch máu, làm lành vùng thành mạch bị tổn thương, ngăn hình thành mảng bám tại những nơi có vết thương và tăng lượng cholesterol tốt HDL. 

Các nhà nghiên cứu khuyên những người bị cao huyết áp dùng lượng vitamin C tối thiểu là 2.500 mg mỗi ngày.

3.Vitamin A: 

Vitamin A được tìm thấy ở nhiều nguồn thực phẩm như: cá thu, cá trích, những loại quả màu vàng và rau xanh sẫm có chứa một lượng tiền vitamin A lớn.

Nên bổ sung cá vào khẩu phần ăn hàng ngày để hạn chế nguy cơ bị huyết  áp. Ảnh: wp.

Nên bổ sung cá vào khẩu phần ăn hàng ngày để hạn chế nguy cơ bị huyết áp. Ảnh: wp.

Vitamin A giúp hòa tan chất béo và ngừa cholesterol xấu LDL do có tác động tích cực đến các tế bào mỡ.

Lưu ý: Dùng vitamin A với liều lượng cao rất nguy hiểm. Vì thế bệnh nhân cao huyết áp muốn chỉ nên dùng 5.000 đơn vị vitamin A mỗi ngày.

4. Vitamin "tinh thần", đó chính là giấc ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày: 

Một nghiên cứu mới đây cho thấy thiếu ngủ và tình trạng căng thẳng kéo dài là tác nhân làm tăng nguy cơ cao huyết áp. Các nhà khoa học trường Đại học Y Harvard ở Boston, Mỹ, đã chứng minh, huyết áp có thể được kiểm soát bằng "phương thuốc" đơn giản là tăng thêm thời gian ngủ. Cụ thể đối với người có dấu hiệu bị cao huyết áp chỉ cần đi ngủ sớm hơn một tiếng đồng hồ vào ban đêm sẽ phục hồi được sức khỏe trong vòng 6 tuần.

Nghiên cứu này được đăng trên trang Journal of Sleep Research. Qua đây, các nhà khoa học đề nghị ngành y tế nên đưa loại "vitamin ngủ" này vào quy định điều trị chứng cao huyết áp.

Ngọc Vĩnh

Bài đăng phổ biến